Ảnh hưởng các nhân tố phát sinh trong quá trình sản xuất đến không gian hình khối, kết cấu nhà công nghiệp và các biện pháp xử lý

      Comments Off on Ảnh hưởng các nhân tố phát sinh trong quá trình sản xuất đến không gian hình khối, kết cấu nhà công nghiệp và các biện pháp xử lý

1. tiếng ồn và rung
– Tiếng ồn:
Tiếng ồn và rung phát sinh do hoạt động của thiết bị công nghệ và kỹ thuật gây tác hại đến sản xuất và sức khỏe của người công nhân. Nếu tiếng ồn vượt quá 15 đến 20dB (đềxiben) so với tiêu chuẩn cho phép (dưới 20dB) nãng suất lao động sẽ giảm từ 10 đến 20%, tai nạn lao động tăng, xuất hiện các bệnh về nghề nghiệp.
Chống ồn trong nhà sản xuất là một vấn đề rất phức tạp do các nhà công nghiệp hiện đại có diện tích sàn rất lớn với các thiết bị công nghệ đa dạng tạo ra mức độ ồn cao, số lượng công nhân làm việc trong đó lại lớn. Biện pháp chống ồn hữu hiệu nhất là tiến hành ngay từ giai đoạn thiết kế dựa vào các tính toán về âm thanh để xác định mức độ ồn dự kiến và đưa ra các giải pháp giảm âm cần thiết. Các biện pháp đó là thay đổi thiết bị công nghệ, thí dụ thay búa máy bằng máy ép nén, khai thác thiết bị hợp lý v.v… Tuy nhiên không phải là lúc nào cũng có thể áp dụng giải pháp này, do vậy giải pháp khả thi hơn cả là cách li nguồn ồn, hút âm tại chỗ, tạo phản xạ âm để ngăn cản sự lan truvền của sóng âm, bọc kín các thiết bị gây ồn.
– Rung động:
Hoạt động của máy móc tạo nên rung động và ồn. Nếu tần số rung của máy móc trùng với tần số rung của kết cấu sẽ xuất hiện cộng hưởng làm độ rung và tiếng ồn tăng lên đột ngột có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho kết cấu và sức khoẻ của công nhân. Để loại trừ rung động cần hoàn thiện kết cấu đỡ thiết bị (loại bỏ độ lệch, khe hở làm cân bằng các chi tiết quay), cách li thiết bị gây rung động với móng và các kết cấu chịu lực khác của nhà, đặt các thiết bị rung động trên đệm chống rung như lò xo, cao su, sợi tổng hợp v.v… Hiện nay trên thế giới cũng sử dụng đệm đàn hồi bằng không khí nén.

2. Các chất xâm thực theo trạng thái vật lý bao gồm chất rắn, chất khí và chất lỏng
Các chất xâm thực tác động xấu lên con người và kết cấu nhà, thường là đồng thời của các loại môi trường xâm thực trên.
– Tác động xâm thực của hơi gas:
Tác động xâm thực của hơi gas phụ thuộc vào chủng loại, nồng độ, độ ẩm của không khí, nhiệt độ, độ hoà tan của hơi gas trong nước. Các hơi gas gây xâm thực là ôxit lưu hùynh, các ôxit tạo axit, khí clo.
– Tác động xâm thực của chất rắn:
Các chất rắn xâm thực bao gồm các loại muối, các loại đất, tro v.v… Mức độ xâm thực phụ thuộc vào khả năng hoà tan trong nước, vào độ ẩm không khí và của chính vật liệu. Môi trường xâm thực của chất rắn chia làm 2 nhóm:
Nhóm I: Không hòa tan và hoà tan yếu.
Nhóm II: Hoà tan dễ dàng.
– Tác dụng xâm thực của chất lỏng:
Chất lỏng xâm thực gồm có các dung dịch muối, các dung dịch hữu cơ, các dung dịch axit, bazơ, nước chứa các chất ăn mòn phá hoại kết cấu ngầm.
Để giảm tác động xâm thực của môi trường đối với kết cấu xây dựng, cần bao kín thiết bị bằng sơn hoặc các biện pháp khác, tạo ra chế độ nhiệt và ẩm của không khí ở mức độ bình íhường, giảm nhiễm bẩn của không khí trong các xưởng bằng cách đặt các trạm khử chất thải độc hại tại chỗ, giảm mực nước ngầm v.v… Cũng có thể sử dụng phương pháp nâng cao khả nãng chống rỉ của kết cấu bằng cách trực tiếp sử dụng loại vật liệu có khả năng chịu được môi trường xâm thực này hoặc bằng giải pháp mạ, sơn kim loại hoặc ốp bề mặt vật liệu bằng các loại gốm, đá tự nhiên. Cũng có thê sử dụng các loại nhựa tổng hợp bằng các chất hữu cơ (bitum, paraphin v.v…). Đối với bê tông cốt thép, bê tông, vữa có thể nâng cao khả năng chống ăn mòn của chúng bằng cách, khi xâv dựng tạo vữa bê tông với thành phần đặc biệt hoặc gia cố bề mặt bằng hoá chất, bảo vệ bằng ốp các tấm vật liệu chống ăn mòn, dán các loại màng ngăn cách với môi trường xâm thực, sơn các loại sơn chống axit, bazơ v.v…
Về quy hoạch mặt bằng nên ngăn cách các khu vực gây độc hại, bẩn thành một khu vực riêng để đỡ phức tạp trong việc xử lý kết cấu.

3. Các chất và hợp chất dễ gây cháy nổ
Có nhiều công trình công nghiệp trong quá trình sản xuất có thể gây cháy nổ. Căn cứ vào đặc điểm này người ta phân ra 5 nhóm: A, B, c, D, E.
Nhóm A: gồm những ngành sản xuất rất dễ cháy nổ, ở đó có thể tạo nên trong không khí những hợp chất cháy nổ khi gặp tia lửa, do chấn động, do chất kích thích nổ, do tác dụng của ôxi trong không khí v.v… gây nên sự huỷ hoại kết cấu của nhà, nguy hiểm cho con người. Những ngành sản xuất thuộc loại này gồm: công nghiệp hoá chất, gia công dầu khí, công nghiệp sản xuất nhiên liệu lỏng nhân tạo v.v…
Nhóm B: gồm những ngành sản xuất dễ cháy nổ, loại này bao gồm gia công than cám, bột gỗ, bột thực phẩm, bột đường và các ngành sản xuất có liên quan đến việc sử dụng hoặc gia công nhiên liệu lỏng, nóng, nhiệt độ bốc hơi của chúng khoảng 28 – 120 °c.
Nhóm C: gồm những ngành sản xuất có liên quan đến gia công chuẩn bị các chất và vật liệu rắn cháy được cũng như nhiên liệu lỏng có nhiệt độ bốc hơi trên 120 °c (dầu, paraphin, mazut v.v…)
Nhóm D: gồm các ngành sản xuất có liên quan đến việc gia công những chất không cháy được ở trạng thái nung nóng và các ngành có đốt nhiên liệu rắn, lỏng dạng gas như các xưởng đúc, rèn, nhiệt luyện, nhà nồi hơi, các nhà máy sản xuất năng lượng v.v…
Nhóm E: gồm những ngành sản xuất có liên quan đến vật liệu không cháy được ở trạng thái lạnh thí dụ: các xưởng cơ khí lắp ráp v.v…
Căn cứ vào việc phân định các nhóm sản xuất trên, người ta đưa ra những quy định nhằm đảm bảo an toàn cho người công nhân, giảm những rủi ro và thiệt hại do cháy nổ. Thí dụ đối với nhóm A, B, c nhà không được xây quá 6 tầng, bậc chịu lửa I và II. Đối với nhóm sản xuất D, E số tầng nhà không quá 9 tầng bậc chịu lửa là I và II. Cũng căn cứ vào bậc chịu lửa để chọn loại vật liệu cho kết cấu chịu lực và kết cấu bao che của nhà, thí dụ bậc chịu lửa bậc I tất cả kết cấu là vật liệu không cháy, còn đối với nhà bậc chịu lửa bậc V vật liệu có thể cháy như gỗ. Ngoài ra đối với các loại sản xuất dễ gây nổ kết cấu bao che nên làm từ vật liệu nhẹ như kính, gỗ ván, tôn, nhôm tấm, phibrô v.v… Khi có sự cố sẽ bung ra không gây thiệt hại đến kết cấu chịu lực chính của nhà. Để hạn chế sự lan truyền của lửa người ta phân chia nhà sản xuất thành các gian bằng vách ngăn chịu lửa. Diện tích của mỗi gian nằm trong khu vực giữa các vách ngăn phòng cháy được xác định căn cứ vào nhóm sản xuất, bậc chịu lửa của nhà và số tầng. Số tầng càng cao bậc chịu lửa càng thấp, thì diện tích càng nhỏ.

4. Nước, hơi nước, khói bụi độc hại
– Nước, hơi nước:
Nước, hơi nước sản sinh do con người (mồ hôi) và thiết bị trong quá trình sản xuất của một số nhà máy: thực phẩm, hoa quả hộp, đường, nhuộm, thuộc da, giấy v.v… Nước, hơi nước làm ẩm ướt kết cấu gây gỉ, nấm mốc trên bề mặt thậm chí ngấm vào bên trong kết cấu. Đặc biệt trường hợp trong quá trình sản xuất có sản sinh ôxit lưu huỳnh hoặc các khí khác, chúng sẽ kết hợp với hơi nước tạo ra hỗn hợp axít loãng phá hoại kết cấu xây dựng làm giảm tuổi thọ của công trình. Do vậy để đảm bảo sức khỏe cho công nhân và kết cấu công trình cần tăng cường thông thoáng tự nhiên hoặc cưỡng bức, ốp lát các phần kết cấu tiếp xúc với nước, tránh dùng các vật liệu hút ẩm mạnh, phủ các nhũ chống thấm hoặc sơn bằng các loại sơn chống rỉ các bề mặt kết cấu v.v…
– Khói, bụi:
Trong các nhà máy xi mãng, nhiệt điện chạy than, rèn đúc, kéo sợi, xay xát, sản xuất vật liệu xây dựng v.v… sinh ra rất nhiều khói bụi, đặc biệt là bụi, ảnh hưởng đến môi trường lao động của công nhân, tăng độ hao mòn của máy móc, giảm độ chiếu sáng cửa sổ, cửa mái v.v… Cần tập trung cách ly các bộ phận phát sinh khói bụi vào một nơi và đặt cuối hướng gió chủ đạo. Tãng cường các biện pháp lọc bụi, hút bụi cục bộ tại nơi sản sinh ra chúng, sử dụng dây chuyền sản xuất theo chu trình kín, đặc biệt cần thực hiện thông thoáng tốt các phòng sản xuất.
– Độc hại:
Một số ngành sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoá chất trong mỏi trường lao động thường xuất hiện những hợp chất có hại cho sức khoẻ của công nhân. Tuỳ theo mức độ độc hại tác động lên cơ thế con người các hợp chất này được phân làm 4 loại:
Loại I – độc hại đặc biệt nguy hiểm; Loại II – độc hại nguy hiểm cao; Loại III – độc hại có thể gây chết người; Loại IV – độc hại ít nguy hiểm. Các chất độc hại có thể ở dạng gas, dạng hơi nước, bụi hoặc hỗn hợp bụi – hơi nước. Tác hại của chúng có thể qua đường phổi khi công nhân hít phải hoặc qua đường da. Độ ẩm và nhiệt độ không khí càng cao càng nguy hiểm. Để hạn chế hoặc loại trừ các chất độc hại cần tăng cường thông thoáng để nồng độ không vượt quá giới hạn cho phép, hạn chế để lọt vào môi trường lao động các chất độc hại bằng cách bọc kín các thiết bị, tập trung cách ly, đặt cuối hướng gió chủ đạo các bộ phận có sản sinh các chất độc hại. Trung hoà, lọc, hấp phụ các chất độc hại trước khi xả vào không khí.

5. Nhiệt thừa
Nhiệt thừa sinh ra do con người (mồ hôi, bức xạ nhiệt), do sự cọ sát của máy móc, do sự bức xạ nhiệt từ các thiết bị công nghệ như từ các lò nấu thép, lò cao nấu gang, lò nấu thuỷ tinh, lò sấy.thuốc lá, lò nung xi măng, lò nung gạch ceramic, nồi nấu bột giấy, nồi hơi, bể tẩy trắng sợi, lò lưu hoá cao su v.v… Lượng nhiệt toả ra làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cồng nhân, kết cấu chịu lực và kết cấu bao che của công trình. Đối với những nơi có nhiệt độ cao dễ gây biến dạng kết cấu, cháy nổ nên cần phải gia cố kết cấu nơi đó hoặc sử dụng những vật liệu không cháy, khó cháy, chịu được nhiệt độ cao. Mặt khác cần cách li hoặc đặt nguồn phát sinh nhiệt ở cuối hướng gió chủ đạo mùa hè. Tăng cường thông thoáng tự nhiên và thông thoáng cưỡng bức bằng các loại quạt gió cục bộ hoặc hút gió cho cả phân xưởng.