Các thông số quy hoạch hình khối nhà và phòng phục vụ

      Comments Off on Các thông số quy hoạch hình khối nhà và phòng phục vụ

1. Các căn cứ để thiết kế các phòng phục vụ

Thành phần các phòng phục vụ phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố như số lượng công nhân viên làm việc ở nhà máy, trong đó chia ra công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân phục vụ sản xuất, kỹ sư và cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, văn phòng, người phục vụ. Số cán bộ này được quy định theo định mức căn cứ vào đặc điểm của từng loại sản xuất. Để thiết kế các phòng phục vụ cần xác định danh mục số người làm việc ở các ca và căn cứ vào số người ở ca đông nhất để xác định diện tích các phòng, số lượng thiết bị để quần áo, số chỗ ngồi trong phòng ăn, tổ chức xã hội.v.v… Đồng thời khi dự kiến sơ đồ chức năng nhà hoặc các phòng phục vụ cần dự kiến sơ đồ Quy hoạch hình khối và kết cấu. Ngoài các yêu cầu trên khi thiết kế các phòng phục vụ còn phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của nhà máy. Theo đặc điểm sản xuất người ta chia các nhà máy thành 4 nhóm:

Nhóm I: quá trình sản xuất diễn ra trong điều kiện bình thường không có độc hại.
Nhóm II: Quá trình sản xuất có sinh ra bụi hoặc lao động nặng nhọc.
Nhỏm III: Quá trình sản xuất sinh ra nhiều độc hại và gây bẩn quần áo lao động.
Nhóm IV: Quá trình sản xuất đòi hỏi một chế độ đặc biệt để đảm bảo chất lượng sản phẩm

Thường phòng để quần áo, tắm rửa bố trí liền nhau thành khối thay quần áo. Phòng để quần áo để chung tất cả các loại quần áo đi đường, áo khoác ngoài, quần áo lao động. Tuy nhiên có trường hợp đặc biệt phòng để quần áo đi đường và áo khoác ngoài riêng còn quần áo lao động riêng, khi đó phòng tắm đặt ở giữa 2 phòng này.

2. Các thông số quy hoạch hình khối nhà và phòng phục vụ
Các thông số quy hoạch hình khối nhà phục vụ thường được khai triển trên cơ sở thống nhất hóa, điển hình hóa. Các đơn nguyên thống nhất hóa thường có chiều rộng 9 – 12m đối với nhà phục vụ xây liền với nhà sản xuất hoặc 9 – 12 – 18m đối với nhà phục vụ đứng riêng rẽ. Chiều dài lấy 36, 48 hoặc 60m, số tầng từ 2 – 4 tầng. Chiều cao tầng căn cứ vào chức năng các phòng có thể lấy3; 3,3; 3,6; 4,2; 4,8m.

Chiều cao tầng lấy 3,6 hoặc 4,2m khi 60% diện tích của tầng dự kiến bố trí các phòng ăn, phòng họp, hội trường diện tích 300m2 trở lên, các phòng họp có sử dụng để chiếu phim được lấy theo tiêu chuẩn thiết kế câu lạc bộ.

Đối với những nhà phục vụ dạng hành lang (thí dụ nhà hành chính) hợp lý nhất là lấy chiều rộng 9m hoặc 15m (3 + 6 = 9m hoặc 6+3+6 = 15m), còn đối với các loại nhà khác có thể lấy chiều rộng 18, 24, 30m và hơn nữa.

Khi bố trí các phòng cần căn cứ vào chức năng sử dụng. Đối với các phòng sử dụng thường xuyên như phòng thay quần áo, tắm, vệ sinh, nhà ăn v.v… cần bố trí để người sử dụng đi đến thuận tiện, gần nhất. Nhà ăn cần bố trí gần lối đi lại, thuận tiện cho việc đưa thực phẩm đến. Các phòng hội họp đông người sử dụng cần bố trí gần lối đi lại, gần nhà ãn để tiện sử dụng trong giờ ăn trưa.